Từ năm 2016 đến năm 2019, tôi hỗ trợ, toàn tâm toàn ý hỗ trợ cho 3 doanh nghiệp công nghệ làm giải pháp, nhưng không thành công. Doanh nghiệp công nghệ họ có nghề, nhưng không có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
2.1.Tác động của môi trường vi mô tới hoạt động Marketing của Unilever Việt Nam .8. 2.1.1.Người cung ứng .8. 2.1.3.Doanh nghiệp 11. 2.1.4.Các trung gian Marketing .14 đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phân tích môi trường Marketing vi mô và Marketing vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt
Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 (được phê duyệt tại Quyết định số 1168/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ) đã xác định "Khuyến khích sản xuất dòng xe thân thiện môi trường (xe tiết
Nam qua biên giới Trung Quốc, Campuchia và hàng giả Thượng Đình làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, ảnh hưởng đến uy tín của giầy Thượng Đình.+ Do tình hình sản xuất theo mùa vụ, theo đợt xuất kinh doanh giầy dép, ở Việt Nam đã có gần 120 doanh nghiệp.
1.3 Môi trường kinh tế và công nghệ Ảnh hưởng của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế và công nghệ đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn. Các yếu tố thuộc môi trường này quy định cách thức doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong việc sử dụng tiềm năng của mình và qua đó cũng tạo ra cơ hội kinh doanh cho từng doanh nghiệp.
4. Môi trường vĩ mô (môi trường tổng quát) của doanh nghiệp - Các yếu tố kinh tế: - Môi trường công nghệ kỹ thuật. - Môi trường tự nhiên : - Môi trường văn hoá xã hội. 5. Môi trường vi mô (môi trường tác nghiệp) của doanh nghiệp - Khách hàng: - Đối thủ cạnh
doanh nghiệp 100 vốn nước ngoài là công ty thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam. Và do các nhà đầu tư nước ngoài tự đứng ra quản lý. Và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
Môi trường được hiểu là một tập hợp nó bao gồm toàn bộ những yếu tố liên quan đến tự nhiên và nhân tạo xung quanh con người, nó tác động trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đến những hoạt động sống diễn ra quanh con người như là: không khí, nước, sinh vật, độ ẩm, xã hội loài người và cả thể chế.
Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd Hỗ Trợ Nợ Xấu. Chào mừng bạn đến với “Sự Thay Đổi Lớn” được đặt tên theo “Báo Cáo Xu Hướng Nguồn Nhân Lực Toàn Cầu của Deloitte năm 2017”. Đó không chỉ là 1 yếu tố trong môi trường làm việc thay đổi; mà thực chất là tất cả mọi thứ đã thay đổi! Công nghệ ảnh hưởng làm thay đổi từ phương thức làm việc đến phong cách sống và làm việc của lực lượng lao động, từ những giờ làm việc cố định tại công sở đến sự tiến bộ của công nghệ cho phép làm việc và kết nối xuyên quốc gia và toàn cầu, MỌI THỨ đã thay đổi! Và chúng ta có thể nói đây là “sự thay đổi tốt đẹp.”Sự thay đổi công nghệ ảnh hưởng đến hoạt động công ty về những cơ hội để cải cách hoạt động kinh doanh, chính sách nhân sự, công cụ và chiến lược tại nơi làm việc, và còn nhiều thứ khác nữa. “Báo Cáo Xu Hướng Nguồn Nhân Lực Toàn Cầu của Deloitte năm 2017” phân tích những thay đổi này đã diễn ra do sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ, chúng ta cần đề ra những chiến lược để sẵn sàng cho sự tiến bộ công ty thất bại; dẫn đến giảm hiệu suất và doanh thu. Với tất cả những điều tốt đẹp đề cập trên; những tiến bộ công nghệ không phản ánh hoàn toàn hoạt động và doanh thu công ty. Điều này được thể hiện trong biểu đồ bên dướiBiểu đồ 1 Điều gì đang diễn raDi động, cảm biến, trí tuệ nhân tạo, công nghệ điện toán nhận thứcKhả năng tiếp cận công nghệ của người tiêu dùng toàn cầuCông nghệ xâm nhập vào chính trị và cuộc sống đời thườngNhững thay đổi đang diễn ra trong lĩnh vực công nghệ và thế giới không thể thích nghi ngay trong một đêm. Cho đến lúc nhân viên, chính sách và công ty bắt kịp với sự phát triển, công nghệ lại càng tiến bộ hơn. Có những yếu tố tiềm ẩn cần được hiểu rõ nhằm đưa mọi người và hoạt động kinh doanh bắt kịp với các tiến bộ khoa đồ 2 Điều gì đang thực sự xảy raCơ hội của ngành nhân sự là giúp thu hẹp khoảng cách giữa công nghệ, cá nhân, công ty, xã hội và chính cáo của Deloitte chỉ ra 4 yếu tố với tiến độ phát triển khác nhau;i Công nghệ’ theo định luật Moore đang tăng gấp đôi về tiến độ phát triển mỗi 18 đến 12 tháng,ii Cá nhân’ đang thay thích nghi và cải thiện bản thân nhanh chóng một người Mỹ xem điện thoại trung bình 8 tỉ lần mỗi ngàyiii Và sau đó doanh nghiệp’ đang bị thụt lùi phía sau, vẫn cố gắng để bắt kịp tiến độiv Và cuối cùng chậm thay đổi nhất là chính sách công’Kế hoạchBáo cáo rõ ràng nhấn mạnh sự tiến bộ không ngừng về công nghệ đang tạo ra một làn sóng năng suất khổng lồ, và điều cần phải tập trung vào thời điểm này là một kết hoạch hành động. Chiến lược nào các công ty và chuyên viên nhân sự cần thích nghi để đẩy lùi khoảng cách tạo ra bởi sự chuyển hướng nền công nghệ hiện tại?Bộ mặt mới của các công tyTrong những thời điểm trước đây, các công ty vẫn tập trung vào việc tăng hiệu quả hoạt động; điều này hầu như đã tăng hiệu suất làm việc và thúc đẩy công ty phát triển lên một tầm cao hơn. Hiện tại đã khác biệt nhiều! Hoàn toàn khác biệt. Các công ty không thể bước vào cuộc đua khi thay đổi một vài chiến lược, họ cần phải thay đổi bộ mặt công ty trước tiên. Công ty sẽ không chỉ cải tiến quy trình mà cần phải tái cấu trúc và tạo ra những chính sách, hệ thống và hệ tư tưởng mới để bắt kịp tiến độ phát triển. Các doanh nghiệp của ngày hôm nay cần phảiThích nghi nhanh Sự thay đổi này diễn ra liên tục và phù hợp với sự phát triển về công nghệ của các công ty, họ sẽ phải tập trung vào việc thích ứng một cách nhanh việc nhóm và thiết lập các mối quan hệ Đã qua rồi hệ thống quản lý phân tầng, nhân viên làm việc độc lập không còn thành công so với những nhóm dự án và sự luân chuyên nhân sự. Thời hiện tại đòi hỏi nhân viên phải làm chung trong một nhóm nhỏ những nhóm được tạo nên dựa trên một dự án và sau đó tách ra khi dự án kết thúc; sau đó lại thành lập một nhóm khác dựa trên dự án mới. Một thực tiễn khác cần được thông qua là sự chuyển giao vai trò. Cách giao 1 nhiệm vụ cốt lõi cho từng nhân viên đã dần trở nên lỗi thời. Nhân sự nên thực hiện việc mở rộng bản mô tả công việc và luân chuyển nhân sự dựa những công việc khác nhau để giúp nhân viên làm giàu hơn kinh nghiệm làm việc của bản thân và xây dựng một ngân hàng nhân tài vững mạnh cho công giá và minh bạch Nhân viên nên được yêu cầu đánh giá những quy trình của công ty bằng những câu hỏi mở. Và điều thứ hai công ty cần làm là tạo nên các chính sách và phương thức truyền thông minh bạch, tăng niềm tin đối với nhân viên trong công giá cần thực hiện theo phương pháp đánh giá chéo, nhân viên cần được đánh giá trong các lĩnh vực như hiệu suất làm việc, thái độ, sự thích nghi, sự linh hoạt, làm việc nhóm, và kết quả cần được công bố minh bạch để tăng sự khích lệ đối với nhân công cụ nhân sự Một nhu cầu rất rất quan trọng hiện tại là thích ứng với những công nghệ và nền tảng kỹ thuật số mới nhất để các công ty có thể tận dụng các ứng dụng tiên tiến nhất và mạng xã hội để vận hành các quy trình trong và ngoài công ty. Hướng tới kỹ thuật số là phương thức duy nhất để tồn tại!Đánh giá cao những điểm mới Nhân viên nên được công nhận và đề bạt dựa vào những điểm như sáng tạo, tinh thần học hỏi, dám chấp nhận thách thức và thử nghiệm điều mới thay vì chỉ dựa vào đánh giá hiệu suất làm cáo của Deloitte đã lập nên biểu đồ như bên dưới về các quy luật cũ và mớiQuy tắc cũQuy tắc mớiĐịnh hướng về năng suất và hiệu quảĐịnh hướng để học hỏi, sáng tạo, và tạo ảnh hưởng đến khách hàngCông ty là một tổ chức phân cấp, với quy trình ra quyết định được phân cấp từ trên xuốngCông ty là mạng lưới linh hoạt, phân quyền xuống cho các trưởng nhóm, và vận hành dựa trên sự hợp tác và chia sẻ kiến thứcCấu trúc doanh nghiệp dựa trên chức năng chuyên với với các trưởng nhóm/ trưởng phòng chức năng và nhóm chức năng toàn cầuCấu trúc doanh nghiệp xây dựng trên các dự án và nhiệm vụ, lập nên các nhóm tập trung vào sản phẩm, khách hàng và dịch vụPhát triển qua sự đề bạt với quy trình thông qua bởi nhiều tầng lớpPhát triển qua các nhiệm vụ, kinh nghiệm đa dạng, và sự lãnh đạo đa chức năng trong từng nhiệm vụNhân viên “trở thành lãnh đạo” qua sự đề bạtNhân viên “tạo ra nhóm ủng hộ” để xây dựng quyền hạn và tầm ảnh hưởngLãnh đạo bằng chỉ thịLãnh đạo bằng sự điều phốiVăn hoá sợ sai phạm và nhận xét về người khácVăn hoá an toàn, phong phú, dám nghĩ dám làm và sáng tạoDựa trên quy tắcDựa trên niềm vui trong công việcVai trò và vị tri công việc được định nghĩa rõ ràngTrách nhiệm của nhóm được định nghĩa rõ ràng, nhưng vai trò của mỗi thành viên sẽ thường xuyên thay đổiVận hành dựa trên quy trìnhVận hành dựa trên dự án2. Ý nghĩa mới của sự nghiệp’ và tính chủ động trong việc học hỏiCác ứng viên chuyên nghiệp ngày nay không còn tìm kiếm những công việc trì trệ, khiến họ phải dành cả đời để làm, họ hỏi một cách chậm chạp và từ từ thăng tiến trên nấc thang nghề nghiệp. Tính năng động của thời buổi hiện tại đã thay đổi mọi thứ hoàn toàn; với hàng loạt các tài liệu giáo dục, các khoá học miễn phí và sự bùng nổ thông tin, nhân sự ngày nay không còn cần phải học tập liên tục, mà họ sẽ tìm kiếm một công việc cho họ cơ hội học hỏi và thăng tiến trong nghề nghiệp – theo chiều hướng 360 độ. Họ thích làm việc với các tổ chức có thể phát triển sự nghiệp của họ và có thể chọn lựa không làm việc cho những công ty không có chính sách học tập và phát triển nhân những người Trưởng bộ phận đào tạo CLOs sẽ phải làm gì trước thực tế như vậy? Các doanh nghiệp ngày nay cần nhanh chóng bắt kịp, mở rộng và tái đầu tư và các Chiến lược Đào tạo và Phát triển trong công tập mỗi ngày Học tập hiện nay không còn bị giới hạn bởi những chương trình chuyên biệt, mà thay vào đó là việc cần thiết phải học tập liên tục; mọi lúc mọi nơi. Với sự ra đời của những phần mềm mới, các công ty cần đảm bảo rằng nhân viên của họ đang học tập và thích ứng. Công ty có thể sử dụng một số ứng dụng và công cụ để giúp việc học trở nên đơn giản hơn trên di động. Hơn thế nữa, các trường đại học ngày nay hầu hết đều có các chương trình học tập trực tuyến dành cho cấp sau đại học và cao hơn. Các công ty cũng cần nên ghi danh cho nhân viên tham gia các khoá học định nghĩa vai trò của nhà quản lý Các công ty bắt buộc phải tận dụng đội ngũ quản lý nhằm đảm bảo công tác học tập & phát triển của đội ngũ nhân viên. Họ cần phải đảm bảo các nhân viên được đào tạo tốt cho các vai trò mới dõi tiến trình học tập Trường bộ phận đào tạo – CLOs có thể sử dụng các ứng dụng theo dõi để đánh giá thời gian một nhân viên dành thời gian trên các nền tảng học tập, số lượng khoá học họ tham gia và tiến trình học tập sau khi ghi danh vào một khoá học trực tổng thể, công tác Đào tạo & Phát triển đã thay đổi hoàn toàn, ứng viên ngày nay đòi hỏi các cơ hội học tập và phát triển. Thực tế, họ coi cơ hội phát triển sự nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu khi chọn lựa làm việc cho công ty nào đó. Cuối cùng, “Xu Hướng Nguồn Nhân Lực Toàn Cầu Của Deloitte” cũng đưa ra cho chúng ta cái nhìn rõ hơn về các quy chuẩn cũ và mới trong thời kỳ hiện tắc cũQuy tắc mớiNhân viên được yêu cầu học hỏi từ người quản lý hoặc một hình mẫu nào đấyNhân viên được quyết định sẽ học hỏi từ ai, hoặc học cái gì dựa trên nhu cầu của nhóm và mục tiêu nghề nghiệp cá nhânSự nghiệp đi “lên hoặc xuống”Sự nghiệp sẽ rẽ sang nhiều hướng khác nhauNgười quản lý sẽ quyết định hướng phát triển sự nghiệp của nhân viênNhân viên được quyền quyết định hướng phát triển sự nghiệm của bản thân với sự giúp đỡ từ lãnh đạo và người khácBộ phận Đào tạo & Phát triển doanh nghiệp chịu trách nhiệm đào tạo & phát triểnBộ phận Đào tạo & Phát triển định hướng phát triển và tạo nên những trải nghiệm học tập hữu íchNhân viên học trong phòng học và thỉnh thoảng học trực tuyếnNhân viên học mọi lúc mọi nơi, từ các khoá học nhỏ, lớp học và từ các nhóm khác học trong doanh nghiệp là các trung tâm đào tạoTrường học trong doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, với việc học từ các lãnh đạo và các nhóm chức năng khác tạo về quy trình, quy định và danh mục các khoá học có sẵnĐào tạo và phát triển tạo ra môi trường hợp tác thường xuyên, khuyến khích trải nghiệm học tậpNội dung đào tạo được soạn thảo bởi các chuyên gia và bộ phận Đào tạo & Phát triểnNội dung đào tạo có thể được tất cả mọi người soạn thảo, được chính các nhân viên hoặc bộ phận Nhân sự đào tạo chỉ được cấp bởi các trường đại học, các học viện đào tạo; kỹ năng chỉ được chứng nhận trên giấyChứng nhận kỹ năng “đa dạng, phong phú” khi nhân viên học được kỹ năng mới bằng nhiều cách khác nhau3. Lựa chọn nhân viên phù hợp Tuyển dụng nhân viên phù hợp cho công ty trở thành viênc quan trọng hơn bao giờ hết. Khi ứng viên yêu cầu càng nhiều thứ từ công ty; thì thị trường nhân tài trở nên càng ngày càng khốc liệt khiến việc tuyển dụng càng trở nên khó khăn. Chuyên gia nhân sự không chỉ cần tập trung vào việc tìm kiếm một ứng viên có khả năng cạnh tranh cao, có khả năng thích ứng với công nghệ và đa kỹ năng, mà còn phải định vị họ như một nhân tài mà công ty mong muốn gia dụng nền tảng kỹ thuật số Tuyển dụng dựa trên nền tảng kỹ thuật số là một trong các làn sóng công nghệ hiện tại, giúp các chuyên viên nhân sự tiết kiệm thời gian mà vẫn mang lại kết quả tốt. Các công ty ngày nay cần chuyển dần sang xu hướng tuyển dụng số hoá để giảm bớt lượng ứng viên lọt vào trong danh sách ưu tiên của công ty cần thiết lập nghĩa các chiến lược số hoá và mạng xã hội. Họ cần sử dụng nhiều hơn nữa các công cụ công nghệ như videos, trò chơi và điện thoại di động để định vị họ như những công ty nhanh nhạy với xu hướng công nghệ và số môi trường làm việc số hoá sẽ thu hút các ứng viên thế hệ gen Y; các công ty do đó cần tập trung vào việc tối ưu hoá quy trình nội bộ và cơ sở vật chất phục vụ cho công vị độc quyền Hãy khiến công ty nổi bật hơn trong mắt nhân viên với những điều đặc quyền mà công ty mang lại cho họ. Tạo nên các trả inghiệm mang lại lợi ích cho nhân viên theo một cách khác thường; một điều gì đó mà chưa ai từng đã đưa ra một số quy tắc sau cho việc Tuyển dụng Nhân tài trong báo cáo về Nguồn Nhân Lực của mìnhQuy tắc cũQuy tắc mớiChuyên viên tuyển dụng sử dụng các công cụ trực tuyến để tìm kiếm ứng viênChuyên viên tuyển dụng sử dụng nhiều loại công cụ như trang mạng xã hội như Twitter, Facebook, Glassdoor, Pinterest, và Quora cũng như LinkedIn để tìm kiếm ứng viênThương hiệu nhà tuyển dụng được xem là chiến lược của phòng marketingThương hiệu tuyển dụng là một chiến lược toàn diện, để tiếp cận được tất cả các kênh và nguồn ứng viên tiềm năngChuyên viên tuyển dụng vận hành quy trình tuyển dụngChuyên viên nhân sự cùng nhà tuyển dụng cùng hợp tác qua tất cả các quy trình tìm kiếm, tận dụng các mối quan hệ, dựa trên yếu tố văn hoá và đưa ra các tiêu chí tuyển dụng thành tả công việc chỉ đưa ra những gì công ty yêu cầu từ ứng viên tiềm năngMô tả công việc tập trung vào nhu cầu của ứng viên – một chiến thuật để thu hút nhiều hơn gấp 3 lần số lượng hồ sơ ứng tuyểnHệ thống theo dõi đơn ứng tuyển là hệ thống duy sử dụng công nghệ thông tin duy nhất trong phòng nhân sựCông ty có nền tảng công nghệ dành cho thu hút nhân tài, cho phép quản lý các nguồn hồ sơ, phỏng vấn qua video, quản lý phỏng vấn, mối quan hệ với ứng viên và ngay cả sau khi ứng viên được tuyển dụngQuy trình thu hút nhân tài được xây dựng dựa trên tính hiệu quả, và tốc độ tuyển dụng có lợi cho doanh nghiệpỨng viên và nhà tuyển dụng là trọng tâm của quy trình thu hút nhân tài, quy trình sẽ được hiệu chỉnh để giúp nâng cao trải nghiệm của ứng viên trong hành trình thu hút nhân tài của công tyNgoài các chiến lượng nền tảng, các công ty còn cần phải nhìn vào các khía cạnh sauƯu tiên trải nghiệm của nhân viên Các công ty cần phải định vị nhân viên’ như là ưu tiên số 1 của công ty bởi ngày nay chỉ có nguồn nhân tài mới là cốt lõi phát triển công ty vững mạnh. Một môi trường tràn đầy động lực cần có các trang thiết bị tập thể dục thể hình nhằm đảm bảo sức khoẻ và dinh dưỡng cho đội ngũ lao động. Các công ty sẽ phải tạo nên một nền tảng quản lý nhân viên với các chính sách mở và tự do ngôn luận. Không chỉ như vậy, các công ty ngày nay cần phải chỉnh sửa chính sách để khuyến khích nhân viên đưa ra các đề xuất đóng góp cho công ty, tăng sự tham gia và trao quyền cho nhân viên đối với công ty. Bên cạnh đó, các phản hồi về công ty và ngược lại cần chứng minh được tính hiệu lý hiệu suất làm việc; bộ mặt mới Không còn cần thiết phải đánh giá nhân viên dựa trên các thước đo cũ nữa, mọi thứ cần được thay đổi! Các phương pháp đánh giá minh bạch hơn như phản hồi giữa các nhân viên với nhau cần được áp đạo mới Vai trò lãnh đạo cần được tái định nghĩa. Bước vào kỷ nguyên số hoá, các nhà lãnh đạo ngày nay cần phải có khả năng bắt kịp xu hướng công nghệ. Điều này sẽ dễ dàng đạt được nếu những thành viên trẻ được đề bạt và đào tạo để trở thành lãnh đạo. Lãnh đạo ngày nay cần phải sáng tạo, có khả năng dẫn dắt các thành viên trong nhóm, dám nghĩ dám làm, không e ngại chia sẻ quyền hạn và kiến thức và hơn hết là luôn học tập và thay đổi không ngừng sự theo xu hướng số hoá Chuyên gia nhân sự không còn phải dính chặt với công việc xem và lọc hồ sơ, tìm kiếm nhân sự mới và quản lý bảng lương của họ, bởi những nhiệm vụ này có thể chuyển dần sang hệ thống tự động và vai trò mới hơn cần được giao xuống cho bộ phận Nhân sự. Nhân sự thời nay cần phải quan sát các trải nghiệm của nhân viên, giúp công ty đạt được mục tiêu thu hút nhân tài tốt hơn và đào tạo nguồn nhân tài hiện có để mang lại nhân viên và đội ngũ lãnh đạo giá trị cho công ty trong những năm sắp tới. Quy trình trong bộ phận nhân sự cần phải được số hoá, nhân sự trẻ cần phải được tuyển mới thêm và đào tạo về công nghệ phải được áp dụng ngay lập tích nguồn nhân lực Một công ty tốt phải hiểu được hết nhân viên của mình, và một công ty hiện đại cũng phải hiểu hết các nhân viên của mình luôn! Thu thập các thông tin về nhân viên trở thành việc quan trọng hơn bao giờ hết. Có một cơ sở dữ liệu nhân tài là điều bắt buộc!Bình đẳng, đa dạng và hoà nhập Một công ty ngày nay có thể hướng tới việc phát triển môi trường hoàn toàn không thiên vị. Các chính sách cần được minh bạch hoá với những hoạt động công bằng, sử dụng các phương pháp đa dạng trong tuyển dụng và đánh giá nhân viên. Đối với việc giữ chân nhân viên, công ty bắt buộc phải hướng tới sự hội nhập và công tất cả các nỗ lực trên được bỏ ra, các công ty sẽ sớm rút ngắn khoản cách giữa sự phát triển công nghệ và sự phát triển của hiệu suất làm việc và doanh thu công “Việc làm tại các công ty hàng đầu”
Một một tổ chức doanh nghiệp sẽ không bao giờ có thể tồn tại và hoạt động “trong môi trường chân không”. Nó là một phần của một thực thể lớn hơn được gọi là môi trường kinh doanh. Theo nghĩa rộng, môi trường này có thể được chia thành hai loại đó là môi trường vĩ mô và môi trường vi loại môi trường này có thể khác nhau, nhưng cả hai đều rất quan trọng với doanh nghiệp, bạn cần phải nghiên cứu và hiểu cả 2 loại môi trường này để có thể theo dõi và hiểu được các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thực tế, từ đó đưa ra chiến lược thích nghi, phát triển đúng trường vĩ mô là gì?Môi trường vĩ mô là những yếu tố xã hội rộng lớn tác động đến các yếu tố môi trường vi mô của doanh nghiệp. Đó là các yếu tố như dân số, kinh tế tự nhiên, công nghệ, pháp luật và văn hóaMôi trường vi mô là gì?Môi trường vi mô về cơ bản là môi trường có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của bạn. Nó liên quan đến lĩnh vực cụ thể nơi công ty của bạn hoạt động và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các quy trình kinh doanh của bạn. Nói cách khác, nó bao gồm tất cả các yếu tố ảnh hưởng đặc biệt đến doanh nghiệp. Có khả năng ảnh hưởng đến hiệu suất chung của công ty. Môi trường vi mô bao gồm khách hàng, nhà cung cấp, các cộng tác viên bán lẻ, đối thủ cạnh tranh và công khác biệt giữa môi trường vĩ môi và môi trường vi môMôi trường Vĩ môMôi trường Vi môCác yếu tố hình thành nên môi trường vĩ mô dân số, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính trị, pháp luậtCác yếu tố hình thành nên môi trường vi mô nhà cung ứng, trung gian marketing, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, công chúng…Những yếu tố trong môi trường vĩ mô doanh nghiệp không thể nào kiểm soát và bắt buộc phải thích nghi tùy chỉnh và thuận yếu tố vi mô thì doanh nghiệp có thể kiểm soát và thay đổi tích các yếu tố môi trường vĩ môNhững yếu tố về kinh tếMôi trường kinh tế bao gồm các yếu tố tác động tới khả năng chi tiêu của khách hàng và tạo ra những mẫu tiêu dùng khác biệt spending patterns✻ Một số ví dụ về các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh❂ Lãi suất ❂ Tỷ giá hối đoái ❂ Suy thoái ❂ Lạm phát ❂ Thuế ❂ Cầu / CungNhân khẩu họcMỗi phần của thị trường đều bị ảnh hưởng bởi các lực lượng nhân khẩu học chung. Đó là dân số, mật độ dân số, độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp.. Một số biến quan trọng là❂ Quy mô dân số, mật độ dân số❂ Các biến số tuổi ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh❂ Biến khu vực địa lý❂ Trình độ học vấnYếu tố công nghệ trong môi trường vĩ môTiến bộ của công nghệ tạo ra sự thuận lợi trong quá trình sản xuất, giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, tạo ra sản phẩm mới và làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ không dây và các phần mềm ứng dụng giúp cho việc kinh doanh, sản xuất trở nên dễ dàng hơn.✻ Một số yếu tố công nghệ phổ biến nhất là❂ Tự động hóa❂ Kết nối mạng Internet❂ Công nghệ 3D❂ Tốc độ / sức mạnh của tính toán máy tính❂ Hiệu suất động cơ❂ Bảo mật❂ Sạc không dâyMôi trường tự nhiênMọi doanh nghiệp cũng phải tính đến môi trường tự nhiên và các nguồn lực của nó. Có những thứ có thể được tái tạo, chẳng hạn như rừng cây và các sản phẩm nông nghiệp. Những thứ không thể tái tạo, chẳng hạn như than, khoáng sản, dầu, và những thứ tương tự. Cả hai đều liên quan chặt chẽ đến sản xuất.✻ Các lực lượng tự nhiên và vật lý bạn cần chú ý là❂ Thay đổi khí hậu❂ Sự ô nhiễm❂ Thời tiết❂ Sự sẵn có của cả tài nguyên không tái tạo và tài nguyên tái tạo❂ Luật điều chỉnh môi trường❂ Sự tồn tại của các loài sinh vật cụ thểLực lượng chính trị và pháp luậtThị trường phát triển theo môi trường chính trị và luật pháp trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều này có nghĩa là mọi doanh nghiệp cần phải hiểu biết và cập nhật các điều luật thường xuyên trên khắp thế giới để có thể đưa ra quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp mình. Đây là một yếu tố rất quan trọng trong môi trường vĩ mô bạn cần chú ý.✻ Lực lượng này bao gồm những yếu tố pháp lý như❂ Luật bản quyền❂ Luật lao động❂ Luật gian lận❂ Luật phân biệt đối xử❂ Luật sức khỏe và an toàn❂ Luật xuất nhập khẩuVăn hóa xã hộiCuối cùng trong môi trường vĩ mô, điều cốt yếu là phải hiểu rằng sản phẩm mà bạn đưa ra thị trường có thể có tác động mạnh mẽ đến xã hội. Và quan trọng hơn hết, bạn phải thích nghi tùy chỉnh với văn hóa của thị trường mà bạn đang hướng tới ví dụ bạn không thể chế biến thực phẩm bán cho người miền Bắc có vị cay như người miền Trung. ✻ Có rất nhiều yếu tố xã hội và văn hóa, một số yếu tố trong số đó là❂ Cấp độ giáo dục❂ Tôn giáo và tín ngưỡng❂ Ý thức về các vấn đề sức khỏe❂ Tầng lớp xã hội❂ Cấu trúc và quy mô của một gia đình❂ Tốc độ tăng trưởng dân số❂ Lối sống khác nhau❂ Đặc điểm văn hóa vùng miền, quốc giaCác yếu tố của môi trường vi môKhách hàng trong môi trường vi môLà những khách hàng và tổ chức sử dụng hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp. Những khách hàng mà công ty của bạn hướng đến, cũng như lý do, nhu cầu đằng sau việc mua sản phẩm của khách hàng, sẽ ảnh hưởng lớn đến cách bạn tạo các chiến lược marketing. Khách hàng của bạn có thể là B2C, B2B, quốc tế, địa phương, ra, nhu cầu của khách hàng luôn thay đổi theo thời gian. Do đó cần phải nghiên cứu từng loại khách hàng trong từng giai đoạn để thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.✻ Các loại khách hàng có thể kể đến❂ Người tiêu dùng❂ Nhà sản xuất❂ Các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp phi lợi nhuận❂ Khách hàng quốc tếCác nhà cung cấpLà các tổ chức hoặc cá nhân cung cấp cho doanh nghiệp bạn các nguồn vật tư cần thiết để sản xuất hoặc các thành phẩm để đưa vào quá trình tiêu thụ. ✻ Các yếu tố để đánh giá nhà cung cấp❂ Khả năng về đảm bảo chất lượng và số lượng❂ Uy tín về thời gian giao hàng, kiểm kê số lượng❂ Giá cả và sự bình ổn về giáTrung gian marketingCác trung gian marketing có trách nhiệm giúp doanh nghiệp truyền thông, bán và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng.✻ Các trung gian marketing❂ Trung gian phân phối❂ Tổ chức cung cấp dịch vụ lưu thông sản phẩm❂ Tổ chức cung cấp dịch vụ Marketing❂ Tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính - tín dụngĐối thủ cạnh tranhMỗi doanh nghiệp tùy hoàn cảnh có những hình thức đối thủ cạnh tranh khác nhau. Là những đối thủ càng bán một loại sản phẩm hoặc một sản phẩm thay thế sản phẩm của doanh nghiệp bạn…✻ Về cơ bản có 4 loại đối thủ cạnh tranh❂ Đối thủ cạnh tranh về ước muốn Desire competitors❂ Đối thủ cạnh tranh về loại sản phẩm Generic competitors❂ Đối thủ cạnh tranh về hình thái sản phẩm product form competitors❂ Đối thủ cạnh tranh về nhãn hiệu/ thương hiệu sản phẩm Brand competitorsCông chúngTheo Philip Kotler “Công chúng là bất kỳ nhóm nào quan tâm thực sự hay sẽ quan tâm đến doanh nghiệp và có ảnh hưởng đến khả năng đạt tới những mục tiêu đề ra của doanh nghiệp”✻ Công chúng bao gồm❂ Giới truyền thông❂ Giới công quyền❂ Các tổ chức xã hội❂ Giới tài chính❂ Giới địa phương❂ Công chúng rộng rãi❂ Công chúng nội bộPhân tích SWOTPhân tích SWOT Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Thách thức điều này có ích cho cả việc phân tích môi trường vĩ mô và vi mô. Yếu tố Strengths điểm mạnh và Weaknesses điểm yếu có ảnh hưởng lớn đến công việc kinh doanh, trong khi hai yếu tố sau là Opportunities Cơ hội và Threats Thách thức sẽ là yếu tố bên ngoài và không chịu sự kiểm soát của tổ điểm mạnh, bạn nên tự hỏi bản thân mình giỏi ở điểm nào, giá trị mang lại là gì, bạn tạo ra sự khác biệt nào, Mặt khác, khi nói đến điểm yếu, bạn cần đánh giá mức độ phụ thuộc của mình vào các nhà cung cấp bên ngoài, các khía cạnh cần cải thiện, hội liên quan đến hoàn cảnh thuận lợi mà công ty cần tận dụng để nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Các mối đe dọa là yếu tố không thể kiểm soát được nhưng cần được thừa nhận và thích nghi. Điều này bao gồm các xu hướng chính trị, kinh tế và khách hàng, cũng như các khoản nợ và chi thêm Hướng dẫn xây dựng chiến lược từ mô hình SWOTTóm tắtCả hai môi trường vĩ mô và vi mô đều có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mức độ thành công của doanh nghiệp bạn. Mọi quyết định mà bạn đưa ra cần phải xem xét hai loại môi trường này. Các chiến lược marketing của bạn cũng phải dựa trên chúng, để thu được lợi nhuận và giữ được vị trí thương hiệu trên thị trường.
ArticlePDF AvailableAbstractBài viết nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN của Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit với dữ liệu thời điểm gồm 2649 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có các yếu tố quy mô doanh nghiệp, sự kiểm tra của cơ quan chức năng, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật từ chính phủ ảnh hưởng tích cực đến đến việc đổi mới công nghệ, trong khi đó thì yếu tố chi phí phi chính thức ảnh hưởng tiêu cực đến việc đổi mới công nghệ. Từ kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa ra nhằm gia tăng việc đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeAuthor contentAll content in this area was uploaded by Nguyen Thi Anh Van on Mar 09, 2022 Content may be subject to contentAll content in this area was uploaded by Nguyen Khac Hieu on Oct 01, 2021 Content may be subject to may be subject to copyright. Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 167 Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam Factors affect the technology innovation at small and medium Vietnamese enterprises Nguyễn Thị Anh Vân1*, Nguyễn Khắc Hiếu1 1Khoa Kinh Tế- ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM, Việt Nam *Tác giả liên hệ, Email anhvan DOI Ngày nhận 24/09/2019 Ngày nhận lại 16/03/2020 Duyệt đăng 07/05/2020 Từ khóa đổi mới công nghệ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hồi quy Logit Keywords technology innovation, Small and Medium Enterprises SMEs, Logit regression Bài viết nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN của Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy logit với dữ liệu thời điểm gồm 2649 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có các yếu tố quy mô doanh nghiệp, sự kiểm tra của cơ quan chức năng, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật từ chính phủ ảnh hưởng tích cực đến đến việc đổi mới công nghệ, trong khi đó thì yếu tố chi phí phi chính thức ảnh hưởng tiêu cực đến việc đổi mới công nghệ. Từ kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa ra nhằm gia tăng việc đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. ABSTRACT This research focuses on factors affectting technology innovation at small and medium Vietnamese enterprises SMEs. Logit regression is used with crossectional data of 2469 small and medium Vietnammese enterprises. The results show that some factors have positive effect on technology innovation such as firm size, technical compliance inspections by government officials, international quality certification, exports, product innovation, and technical assistance of Government whereas informal cost has negative impact on technology innovation. From the results, some solutions have been suggested in order to increase technology innovation of small and medium enterprises in Vietnam. 1. Giới thiệu Hiện nay, với cuộc cách mạng công nghệ đang là mấu chốt để quyết định thành bại của nhiều doanh nghiệp. Trên thế giới, việc đổi mới công nghệ diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ. Tuy nhiên ở Việt Nam, đặc biệt tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vấn đề đổi mới công nghệ đang là một thách thức. Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ KH và CN cho thấy, năm 2015 cả nước có gần 600 nghìn doanh nghiệp, với hơn 90% là DNVVN và phần lớn các doanh nghiệp này đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ Minh Nhat, 2015. Và theo báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 168 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 2019 của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF cho thấy, trình độ công nghệ của Việt Nam hiện nay đang xếp hạng 67/141 quốc gia được khảo sát. Trong khi đó việc đổi mới công nghệ có tương quan thuận đến tăng trưởng của doanh nghiệp, tức là việc đổi mới công nghệ có khả năng tăng doanh thu, lợi nhuận, và khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp UNITED NATIONS UNIVERSITY, 2015. Theo khảo sát các DNVVN cho thấy năm 2015 chỉ 4,9% các DN được khảo sát có đổi mới công nghệ UNITED NATIONS UNIVERSITY, 2015. Tại sao tỷ lệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đổi mới công nghệ thấp? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam? Đây là những câu hỏi nghiên cứu quan trọng cần được trả lời. Tuy nhiên, các nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại Việt Nam hầu hết chỉ mang tính thống kê và các nhận định của các chuyên gia Kim Hien, 2015; Minh Nhat, 2015; Nguyen, Vu, & Nguyen 2018, rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN. Chính vì vậy tác giả thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các công ty vừa và nhỏ của Việt Nam”. Nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN của Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm gia tăng hoạt động đổi mới công nghệ tại Việt Nam. 2. Cơ sở lý thuyết Các khái niệm liên quan Khái niệm liên quan đến đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ Theo OECD 2005, đổi mới công nghệ bao gồm các sản phẩm và quy trình mới và những thay đổi công nghệ quan trọng của sản phẩm và quy trình. Một đổi mới đã được thực hiện nếu nó đã được giới thiệu trên thị trường. Đổi mới công nghệ là không thể tránh khỏi đối với các công ty muốn phát triển và duy trì tính cạnh tranh cạnh hoặc đạt được mục tiêu thâm nhập vào thị trường mới Souitaris, 2002. Đổi mới công nghệ là việc thay thế một phần chính hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng một công nghệ khác tiến tiến hơn, hiệu quả hơn. Đổi mới công nghệ có thể nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất hoặc có thể nhằm tạo ra một sản phẩm, dịch vụ mới phục vụ thị trường. Theo Branscomb 2001, đổi mới công nghệ là việc thực hiện thành công trong thương mại hoặc quản lý của một ý tưởng kỹ thuật mới. Những đổi mới được phân biệt với các phát minh. Theo Frankelius 2009 đổi mới có liên quan đến, nhưng không giống như phát minh, vì đổi mới có nhiều khả năng liên quan đến việc triển khai thực tế một phát minh tức là khả năng mới / cải tiến để tạo ra tác động có ý nghĩa trong thị trường hoặc xã hội, và không phải tất cả các đổi mới đòi hỏi một phát minh Bhasin, 2012. Đổi mới công nghệ đóng một vai trò ngày càng nổi bật trong sự tăng trưởng của các nền kinh tế công nghiệp hàng đầu. Các mô hình của quá trình đổi mới công nghệ đã phát triển theo thời gian và hiện có thể tính đến nhiều yếu tố bên ngoài công ty ảnh hưởng đến khả năng đổi mới Branscomb, 2001. Theo Cancino, Paza, Ramaprasad, và Syn 2018, đổi mới công nghệ được coi là phương tiện để tối ưu hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực quan trọng trong các hệ thống kinh tế xã hội-sinh học. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng khái niệm đổi mới công nghệ là sự thay đổi trong quy trình hoặc trong công nghệ của các máy móc thiết bị. Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 169 Doanh nghiệp vừa và nhỏ DNVVN Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ, nếu doanh nghiệp có từ trên 10 đến 200 lao động là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và doanh nghiệp có số lao động từ trên 200 đến 300 là doanh nghiệp có quy mô vừa. Định nghĩa trên áp dụng cho tất cả các ngành trừ thương mại và dịch vụ. Đối với ngành thương mại và dịch vụ, doanh nghiệp nhỏ có số lao động từ trên 10 đến 50, doanh nghiệp vừa có số lao động từ trên 50 đến 100. Trong nghiên cứu này khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được hiểu theo định nghĩa trên. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan Hiện nay, vấn đề đổi mới công nghệ đang được quan tâm mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt với sự phát triển mạng mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp Vì vậy có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên cứu tập trung về hai khía cạnh các động cơ của để các công ty đổi mới công nghệ và ảnh hưởng của việc đổi mới công nghệ đến công ty như doanh thu, lợi nhuận, chi phí, tính cạnh tranh.... Trong phạm vi liên quan đến đề tài, tác giả lược khảo một số nghiên cứu liên quan đến câu hỏi các yếu tố nào ảnh hướng đến việc đổi mới công nghệ trong công ty. Theo Gnyawali và Park 2009 cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối mặt với những thách thức to lớn khi cố gắng theo đuổi các đổi mới công nghệ. Chính vì vậy họ đã đưa ra một mô hình khái niệm gồm nhiều yếu tố để kích thích sự áp dụng đổi mới công nghệ cho các nhà quản lý DNVVN và các nhà hoạch định chính sách. Mô hình chỉ ra rằng sự hợp tác chiến lược tức là vừa hợp tác vừa cạnh tranh sẽ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng đổi mới công nghệ. Trong đó chiến lược hợp tác ngành bao gồm vòng đời sản phẩm ngắn; sự hội tụ công nghệ, chi phí nghiên cứu và phát triển cao. Tiếp theo Uzkurt, Kumar, Kimzan, và Sert 2012 nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến động của môi trường đến sự đổi mới tại doanh nghiệp. Nhóm nghiên cứu khảo sát 156 doanh nghiệp DNVVN tại Thổ Nhỉ Kỳ. Kết quả cho thấy sự biến động về thị trường và sự biến động về công nghệ có ảnh hưởng tích cực đến đổi mới tại các doanh nghiệp DNVVN. Từ kết quả nghiên cứu một số gợi ý được đưa ra nhằm tăng cường hoạt động đổi mới tại doanh nghiệp. Tiếp theo là một nghiên cứu tại khu vực Đông Nam Á, Thong 2015 nghiên cứu một mô hình về đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp nhỏ ở Singapore. Cuộc điều tra thông qua bảng câu hỏi được tiến hành tại 166 doanh nghiệp, đối tượng trả lời là các CEO của công ty. Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy đặc điểm tính cách của CEO tính sáng tạo, kiến thức về đổi mới; đặc điểm của đổi mới và đặc điểm của tổ chức quy mô doanh nghiệp và mức độ hiểu biết của nhân viên ảnh hưởng đến khả năng chấp nhận công nghệ. Ngược lại, đặc tính môi trường cạnh tranh không ảnh hưởng trực tiếp đến việc chấp nhận đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ. Gần đây, Rangus và Slavec 2017 nghiên cứu xem xét việc phân quyền, khả năng hấp thu và sự tham gia của nhân viên dựa trên sáng kiến đổi mới tác động đến sự đổi mới của công ty. Nghiên cứu khảo sát 421 doanh nghiệp tại sản xuất và dịch vụ tại Slovenia. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phân quyền có ảnh hưởng tích cực đến việc đổi mới tại doanh nghiệp. Ngoài ra việc đổi mới cũng ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, trong cuộc cách mạng công nghiệp và sự toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay thì việc đổi mới công nghệ thực sự đang là vấn đề cấp bách đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên theo nhận định của các chuyên gia thì tỷ lệ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đổi mới công nghệ rất thấp. Chính vì vậy có khá nhiều đề tài phân tích về các nguyên nhân của việc hạn chế đổi mới công nghệ tại DNVVN. Ví dụ như Kim Hien 2015 cho rằng sử dụng công nghệ lạc hậu, phần lớn các doanh nghiệp của nước ta mới chỉ tham gia vào khâu thấp nhất trong chuỗi cung ứng là lắp ráp và gia công, cung cấp các phụ tùng thay thế, chứ chưa tham 170 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 gia sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Lý giải về việc này, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương công bố ngày 26/05/2015 trong báo cáo điều tra Năng lực cạnh tranh và công nghiệp ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt Nam cho thấy, trở ngại lớn nhất của doanh nghiệp phải đối mặt chính là trở ngại chính. Theo đó, có tới 90% trong tổng số doanh nghiệp được điều tra trong thời gian 4 năm cho biết do gặp khó khăn về tài chính nên họ chưa có chiến lược cải tiến công nghệ. Báo cáo điều tra cũng cho biết, một trong những lý do gây cản trở doanh nghiệp đầu tư công nghệ là do môi trường kinh doanh và điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn ở trong tình trạng khó khăn. “Phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam dựa vào vốn chủ sở hữu để cải tiến công nghệ, điều đó cho thấy khả năng đầu tư của doanh nghiệp bị hạn chế nguồn vốn có sẵn, ví dụ như lợi nhuận giữ lại”, báo cáo nêu rõ. Theo Minh Nhat 2015 trích dẫn từ thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ KH và CN cho thấy “hiện nay cả nước có gần doanh nghiệp, với hơn 90% là DNVVN. Phần lớn đều đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ hai đến ba thế hệ. Trong đó có đến 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% thiết bị là đồ tân trang...; chỉ có 20% là nhóm ngành sử dụng công nghệ cao”. Gần đây, theo Nguyen và cộng sự 2018, DNVVN phải được coi là trung tâm của quá trình đổi mới công nghệ tại Việt Nam vì DNVVN chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động và huy động nguồn lực cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên các quỹ nhà nước hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các DNVVN chưa phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tóm lại, các nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại Việt Nam hầu hết chỉ mang tính thống kê và các nhận định của các chuyên gia, rất ít nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN. Đề tài này sử dụng phương pháp định lượng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại DNVVN thông qua phân tích dữ liệu 2649 DNVVN tại Việt Nam để các nhà nghiên cứu có cái nhìn khách quan và cụ thể hơn về vấn đề này. Sau khi lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả đề xuất đưa vào mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau Đặc điểm chủ sở hữu Theo Thong 2015 đặc điểm tính cách của CEO tính sáng tạo, kiến thức về đổi mới ảnh hướng tích cực đến đổi mới công nghệ trong khi đó tại các công ty vừa và nhỏ thì CEO thường là chủ sở hữu. Theo Divisekera và Nguyen 2018, đặc điểm chủ sở hữu là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến việc đổi mới trong doanh nghiệp. Sarooghi, Libaers, và Burkemper 2015 cũng cho rằng sự sáng tạo của cá nhân trong tổ chức sẽ ảnh hưởng thuận đến việc đổi mới. Trong một doanh nghiệp nhỏ, chủ sở hữu thường chính là người ra quyết định, đặc điểm của chủ sở hữu là rất quan trọng trong việc xác định thái độ đổi mới của doanh nghiệp. Điều này là do phẩm chất của chủ sở hữu là các yếu tố quyết định phong cách quản lý chung của doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đưa đặc điểm chủ sở hữu làm biến độc lập với các quan sát sau giới tính, trình độ học vấn, mức độ chấp nhận rủi ro và ý tưởng đổi mới sáng tạo. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H1 Đặc điểm chủ sở hữu có ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tron doanh nghiệp, cụ thể Nếu trình độ học vấn chủ sở hữu càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, Chủ sở hữu có nhiều ý tưởng đổi mới thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao và chủ sở hữu thích rủi ro thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Quy mô doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã khẳng định tác động của quy mô doanh Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 171 nghiệp đối với đổi mới sáng tạo. Theo Raisch và Birkinshaw 2008, các công ty lớn thường có các nguồn lực để thực hiện hiệu quả các hoạt động liên quan đến việc tạo ý tưởng và thực hiện ý tưởng, trong khi các doanh nghiệp nhỏ ít tài nguyên phải đưa ra lựa chọn và có thể không theo đuổi chiến lược để khiến công ty có thể đổi mới. Bên cạnh đó, các công ty lớn hơn có tài chính, tiếp thị tốt hơn, khả năng nghiên cứu mạnh mẽ hơn và kinh nghiệm phát triển sản phẩm / quy trình sâu hơn sẽ tạo điều kiện cho việc chuyển đổi ý tưởng sáng tạo vào các sản phẩm và quy trình mới Azadegan, Patel, & Parida, 2013; Branzei & Vertinsky, 2006. Các nghiên cứu khác đã lập luận rằng các công ty nhỏ hơn gặp bất lợi so với các công ty lớn hơn vì họ không có hệ thống hành chính phân cấp để giúp quản lý các quá trình kiến thức, hạn chế mức độ đổi mới mà họ có thể đạt được Lubatkin, Simsek, Ling, & Veiga, 2006. Từ các nghiên cứu trước, ta thấy quy mô doanh nghiệp có vai trò quan trọng đến đổi mới. Trong nghiên cứu này, quy mô doanh nghiệp được đại diện bởi các biến chi phí nghiên cứu và phát triển, doanh thu và số lượng lao động của doanh nghiệp. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H2 Doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Mức độ cạnh tranh Theo Divisekera và Nguyen 2018 nghiên cứu sự đổi mới trong ngành du lịch tại Australia đã kết luận đặc điểm chủ sở hữu, cạnh tranh, quy mô công ty và môi trường là các yếu tố ảnh hướng đến đổi mới. Mức độ cạnh tranh càng cao thì khả năng doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ càng lớn. Chính vì vậy trong nghiên cứu này, tác giả đưa biến mức độ cạnh tranh vào mô hình làm biến độc lập. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H3 Doanh nghiệp có mức độ cạnh tranh càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Chứng nhận chất lượng Soto-Acosta, Popa, và Martinez-Conesa 2018 nghiên cứu mô hình của đổi mới tại công DNVVN tại Tây Ban Nha. Kết quả cho thấy quản trị trí thức có ảnh hưởng quan trọng đến đổi mới. Trong đó việc thiết lập một hệ thống vận hành, các thủ tục, chuẩn hóa quy trình sẽ ảnh hướng tích cực đến việc đổi mới. Hệ thống này tương đồng với việc một doanh nghiệp có chứng nhận hệ thống chất lượng. Một doanh nghiệp có chứng nhận hệ thống chất lượng sẽ tạo ra một cơ chế quản lý tốt, từ đó thúc đẩy việc đổi mới. Chính vì vậy trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất chứng nhận chất lượng là một biến độc lập có ảnh hướng đến đổi mới công nghệ trong tổ chức. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H4 Doanh nghiệp có khả năng có chứng nhận chất lượng càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Chính phủ Theo Guo, Xia, Zhang, và Zhang 2018, sự hỗ trợ của chính phủ thông qua quỹ nghiên cứu và phát triển ảnh hưởng tích cực đến đổi mới tại các doanh nghiệp Trung Quốc. Jugend và cộng sự 2018 nghiên cứu tại công ty Brazil cũng kết luận sự hỗ trợ của chính phụ rất quan trọng trong việc áp dụng đổi mới. Không chỉ hỗ trợ về mặt tài chính, việc hỗ trợ về khía cạnh phi tài chính cũng rất quan trọng. Theo Liang và Liu 2018, sự hỗ trợ của chính phủ Trung Quốc trong việc thiết lập các mạng lưới hợp tác giữa các công ty đã giúp các doanh nghiệp quang điện mặt trời đổi mới công nghệ tốt hơn. Từ đó, nghiên cứu này đã đưa các yếu tố liên quan đến chính phủ làm biến độc lập với các biến quan sát là sự hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ, số lần kiểm tra về khía cạnh kỹ thuật của các cơ chức năng, và việc có phải chi trả các chi phí phi chính thức cho các lần kiểm tra hay không. Từ đó nhóm tác giả đưa ra giả thuyết H5 Chính phủ có ảnh hưởng đến khả năng áp dụng đổi mới công nghệ , cụ thể có hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, số lần kiểm 172 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 tra về khía cạnh kỹ thuật của các cơ chức năng càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao, việc chi trả các chi phí phi chính thức càng thấp thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Mô hình nghiên cứu Từ những nghiên cứu thực nghiệm trên ta thấy có nhiều yếu tố tác động đến việc áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng tại các doanh nghiệp. Để xác định được những yếu tố nào có tác động đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN của Việt Nam, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm các yếu tố đã được lược khảo ở các nghiên cứu trước như sau Mức độ cạnh tranh, Đặc điểm chủ sở hữu, Quy mô doanh nghiệp, Chứng nhận chất lượng và Chính phủ. Bên cạnh đó, sau khi phỏng vấn chuyên sâu một số chuyên gia, nghiên cứu đề xuất thêm yếu tố Xuất khẩu và Đổi mới sản phẩm, theo các chuyên gia tại các Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu thường có xu hướng đổi mới công nghệ nhiều hơn để theo kịp với môi trường bên ngoài; và việc đổi mới công nghệ thường theo sau việc đổi mới một sản phẩm nào đó, nhằm đảm bảo đổi mới sản phẩm thành công. Vì vậy tác giả đề xuất hai yếu tố Xuất khẩu và Đổi mới sản phẩm đóng vai trò làm hai biến giải thích của mô hình. Vậy mô hình bổ sung thêm hai giả thuyết nghiên cứu sau H6 Doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao H7 Doanh nghiệp có khả năng đổi mới sản phẩm càng cao thì khả năng áp dụng đổi mới công nghệ càng cao Cuối cùng, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau Hình 1. Mô hình nghiên cứu Nguồn Tổng hợp của tác giả 3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Phương pháp nghiên cứu Do biến phụ thuộc là biến định tính có hai trạng thái bao gồm có đổi mới công nghệ và không có đổi mới công nghệ nên ta có thể sử dụng mô hình hồi quy Logit hoặc Probit để phân tích dữ liệu. Các nghiên cứu thực nghiên cho thấy không có sự khác biệt lớn về kết quả hồi quy giữa mô hình Logit và Probit Gujarati, 2004. Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy logit nhằm xác định những yếu tố có ảnh hưởng đến việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN. Theo Gujarati 2004, mô hình hồi quy logit được trình bày như sau Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 173 1 Trong đó Pi= PrYi=1/Xi là xác suất để Yi nhận giá trị 1 với giá trị Xi cho trước hay là xác suất để doanh nghiệp có đổi mới công nghệ với các đặc điểm cho trước của doanh nghiệp. Xi là vector các biến độc lập, β1 là hằng số và β2 là vectơ các hệ số hồi quy, ui là sai số. Mô tả chi tiết cho việc mã hóa các biến số được trình bày trong bảng sau đây. Bảng 1 Giải thích các biến sử dụng trong mô hình 1 Doanh nghiệp có đổi mới công nghệ, quy trình 0 Doanh nghiệp không đổi mới công nghệ, quy trình Chi phí đầu tư nghiên cứu và phát triển, đơn vị tính triệu VNĐ Qy mô doanh nghiệp Doanh thu Đại diện bởi tổng doanh thu của doanh nghiệp năm 2014, đơn vị tính triệu VNĐ Ý tưởng đổi mới của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, mức độ từ 1-5 1 Không có ý tưởng đổi mới 5 Có rất nhiều ý tưởng đổi mới Thái độ né tránh rủi ro của chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý, mức độ từ 0-10 0 Rất sợ rủi ro 10 Rất thích rủi ro Số lần các cơ quan chức năng đi kiểm tra liên quan đến kỹ thuật trong năm 2014 Tổng số lao động trong công ty tính đến cuối năm 2014 Trình độ học vấn chủ sở hữu 1 Có trình độ trung cấp nghề trở lên 0 Không có trình độ trung cấp nghề trở xuống 1 Có cạnh tranh 0 Không có cạnh tranh 1 Doanh nghiệp là doanh nghiệp hộ gia đình 0 Các loại hình doanh nghiệp khác Chứng nhận chất lượng quốc tế 1 Doanh nghiệp có đạt giấy chứng nhận chất lượng quốc tế 0 Doanh nghiệp không đạt giấy chứng nhận chất lượng quốc tế Chứng nhận chất lượng trong nước 1 Doanh nghiệp có đạt giấy chứng nhận chất lượng trong nước 0 Doanh nghiệp không đạt giấy chứng nhận chất lượng trong nước 1 Doanh nghiệp có xuất khẩu 0 Doanh nghiệp không xuất khẩu 1 Doanh nghiệp có phải chi trả chi phí phi chính thúc 174 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 0 Doanh nghiệp không phải chi trả chi phí phi chính thức 1 Doanh nghiệp có đổi mới sản phẩm/ dịch vụ 0 Doanh nghiệp không đổi mới sản phẩm/ dịch vụ Chính phủ có hỗ trợ kỹ thuật technical assistance trong năm 2014 cho doanh nghiệp không 1 Có hỗ trợ 0 Không hỗ trợ Nguồn Tổng hợp của tác giả Dữ liệu nghiên cứu Đề tài tiếp cận dựa vào bộ dữ liệu khảo sát DNVVN năm 2015được thu thập bởi Viện khoa học lao động và xã hội ILSSA thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội MOLISA, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương CIEM thuộc Bộ Kế hoạch & đầu tư MPI, và Khoa kinh tế DoE thuộc Đại học Copenhagen cùng Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam. Năm 2015 là lần khảo sát thứ 6 điều tra 2 năm một lần. Trong cuộc khảo sát năm 2015 có 2649 DNNVV ngoài quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tại trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng trả lời phỏng vấn là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc là nhà quản lý. 4. Kết quả nghiên cứu Thống kê mô tả Dựa vào kết quả thống kê mô tả đối với biến phụ thuộc ta thấy, trong 2649 DNNVV được khảo sát thì có 2520 doanh nghiệp không đổi mới công nghệ chiếm 95,1%, chỉ có 129 DNNVV đổi mới công nghệ chiếm 4,9%. Hình 2. Tỷ lệ DNVVN đổi mới công nghệ Tiếp theo, Hình 3 thể hiện mối liên hệ việc chính phủ có hỗ trợ kỹ thuật và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Sự hỗ trợ của chính phủ càng cao thì tỷ lệ đạt doanh nghiệp đổi mới công nghệ càng cao. Cụ thể, nếu chính phủ có hỗ trợ thì tỷ lệ đạt đổi mới công nghệ là 29,4%. Ngược lại tỷ lệ sẽ là 4,7% nếu chính phủ không hỗ trợ. Hiện tại bộ dữ liệu năm 2015 vẫn đang là bộ dữ liệu khảo sát DNVVN mới nhất được công bố. đổi mới công nghệ Có đổi mới công nghệ Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 175 Hình 3. Mối quan hệ sự hỗ trợ của chính phủ và khả năng đổi mới công nghệ Kết quả hồi quy logit Để thấy rõ hơn mối liên hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập nhóm tác giả đã đi thực hiện hồi quy logit với biến phụ thuộc là khả năng đổi mới công nghệ. Chi tiết kết quả về mô hình hồi quy được trình bày sau đây. Bảng 2 Kết quả hồi quy mô hình Chi phí nghiên cứu và phát triển Quy mô doanh nghiệp Doanh thu Trình độ học vấn chủ sơ hữu Chứng nhận chất lượng quốc tế Chứng nhận chất lượng trong nước Ghi chú ký hiệu*, ** và *** đại diện cho mức ý nghĩa thống kê 10%, 5% và 1%. Nguồn Phân tích của tác giả phủ không hỗ trợ kỹ thuật Chính phủ có hỗ trợ kỹ thuậtKhông đổi mới công nghệ Có đổi mới công nghệ 176 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 Các tác giả tiến hành dò tìm các vi phạm giả định hồi quy theo đúng kỹ thuật phân tích Logit. Cụ thể, nhóm đã kiểm định phương sai sai số thay đổi và tính chất đa cộng tuyến của mô hình. Kết quả kiểm định White cho thấy mức ý nghĩa của kiểm định ProbF>10% nên nhóm kết luận không xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến được thể hiện ở hệ số VIF ở Bảng 2. Tất cả các hệ số phóng đại VIF đều bé hơn hai nên ta có thể kết luận phương trình hồi quy không có hiện tượng đa cộng tuyến. Cuối cùng, nhóm kết luận với biến phụ thuộc là đổi mới công nghệ, các biến độc lập có ảnh hưởng bao gồm quy mô doanh nghiệp, số lần kiểm tra, chứng nhận chất lượng quốc tế, xuất khẩu, chi phí phi chính thức, đổi mới sản phẩm, hỗ trợ kỹ thuật. Thảo luận kết quả nghiên cứu Từ kết quả phân tích ta thấy, quy mô doanh nghiệp doanh thu, đổi mới sản phẩm và hỗ trợ kỹ thuật là các biến số có ảnh hưởng lớn nhất tới việc đổi mới công nghệ với mức ý nghĩa thống kê <1% trong mô hình. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của nhiều nghiên cứu trước. Nếu doanh nghiệp có doanh thu càng cao thì khả năng đổi mới công nghệ càng cao, điều này đã được các nhà nghiên cứu trước giải thích là các công ty lớn thường có nguồn lực về tài chính, khả năng nghiên cứu mạnh mẽ hơn, và hệ thống vận hành tốt hơn nên dễ dàng trong việc đổi mới công nghệ hơn các công ty nhỏ. Bên cạnh đó, nếu doanh nghiệp có ý định đổi mới sản phẩm thì họ thường đổi mới công nghệ phù hợp với sản phẩm chuẩn bị sản xuất. Đó là lý do tại sao đổi mới sản phẩm là một biến có ảnh hưởng lớn đến đổi mới công nghệ. Việc hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ mang ý nghĩa quan trọng trong việc đổi mới công nghệ tại các DNVVN tại Việt Nam. Nếu chính phủ có sự hỗ trợ đối với doanh nghiệp thì DNVVN sẽ dễ dàng tiếp cận các công nghệ mới, thay đổi các công nghệ lạc hậu để có thể sản xuất ra các sản phẩm chất lượng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Biến số tiếp theo ảnh hưởng đến khả năng đổi mới công nghệ là số lần kiểm tra về kỹ thuật của cơ quan chức năng và việc có phải chi trả chi phí phi chính thức không. Nếu số lần kiểm tra liên quan đến kỹ thuật, công nghệ của cơ quan càng nhiều thì khả năng doanh nghiệp đổi mới công nghệ càng cao, ngược lại nếu doanh nghiệp phải trả chi phí phi chính thức thì khả năng đổi mới công nghệ lại càng thấp. Kết quả này cho thấy, các chính sách kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng có ý nghĩa tích cực, nhằm giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tìm phương án sản xuất hiệu quả, đảm bảo môi trường làm việc cũng như chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên các chính sách này sẽ thực sự hiệu quả nếu việc kiểm tra minh bạch, công tâm và chính xác. Việc có chi trả chi phí không chính thức là rào cản để doanh nghiệp cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như đổi mới công nghệ. Cuối cùng, biến chứng nhận chất lượng quốc tế và xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến việc đổi mới công nghệ với mức ý nghĩa 10%. Dường như các yếu tố nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến đối mới công nghệ. Các doanh nghiệp xuất khẩu và doanh nghiệp có giấy chứng nhận quốc tế đều có xu hướng đổi mới công nghệ tốt hơn các doanh nghiệp còn lại. 5. Hàm ý chính sách Từ kết quả nghiên cứu ta thấy, có bảy nhân tố có ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ tại các DNVVN. Do đó, để nâng cao khả năng đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp các nhà hoạch định chính sách có thể áp dụng các giải pháp sau. Thứ nhất, hỗ trợ của chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến việc doanh nghiệp có đổi mới công nghệ hay không, chính vì vậy chính phủ cần có nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV đổi mới công nghệ dựa trên ứng dụng và chuyển giao công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt, nâng Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 177 cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng thích hợp với DNNVV. Chính phủ có thể hỗ trợ tạo các mạng lưới liên kết chuỗi để các DNVVN có thể chia sẻ công nghệ kỹ thuật với nhau, thúc đẩy nhau đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng. Do nguồn lực có hạn nên trước hết Việt Nam có thể tập trung hỗ trợ một vài lĩnh vực trọng điểm. Ví dụ như lĩnh vực dịch vụ ăn uống, nhà hàng khách sạn và các dịch vụ du lịch. Số lượng các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực này khá nhiều, và nhu cầu khách hàng trong lĩnh vực này ngày càng tăng. Việc đổi mới công nghệ sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh vô cùng to lớn trong lĩnh vực đầy tiềm năng này. Thứ hai, bên cạnh việc hỗ trợ thì việc thanh tra, giám sát cũng rất quan trọng. Có nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam đang dẫn trở thành bãi rác công nghệ của thế giới. Những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường khi các chính phủ nước ngoài cấm sử dụng, đã được nhập về Việt Nam. Việc nhập khẩu máy móc, công nghệ lạc hậu, phế liệu rác thải không chỉ trực tiếp đe dọa môi trường, đe dọa an ninh năng lượng, mà còn cản trở quá trình hiện đại hóa nền công nghiệp của đất nước, giảm giá trị cạnh tranh của quốc gia. Theo đánh giá của ông Phan Xuân Dũng Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội “Tốc độ đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp thời gian qua rất thấp, chưa đạt như mong muốn 10%/năm. Một số ngành, lĩnh vực như nhiệt điện, xi-măng, mía đường, luyện cán thép và khai khoáng vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu. Chúng ta vẫn chuyển giao công nghệ thông qua mua máy móc, thiết bị phần lớn đã lạc hậu hai, ba thế hệ là chính. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta”. Còn theo ông Chu Ngọc Anh Bộ trưởng Khoa học Công nghệ đánh giá tình trạng công nghệ trong nước là “rất yếu kém”. Điều này thể hiện qua các số liệu năm 2015, Việt Nam đứng thứ 56/140 trong bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu, nhưng mức độ sẵn sàng về công nghệ chỉ đứng thứ 92, mức độ hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp đứng thứ 121 và khả năng tiếp thụ công nghệ đứng thứ 112 trong số 140 quốc gia được đánh giá. Đáng lo ngại hơn, theo Bộ trưởng Chu Ngọc Anh, là chúng ta vẫn thiếu công cụ pháp lý để kiểm soát và ngăn chặn các luồng công nghệ lạc hậu được nhập vào trong nước Song Giang, 2016. Chính vì vậy việc hoàn thiện bộ khung pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ trong việc thanh tra giám sát đổi mới công nghệ là vấn đề mà các nhà hoạch định cần quan tâm. Cuối cùng, các doanh nghiệp có chứng nhận chất lượng quốc tế thì khả năng đổi mới công nghệ càng cao, nên việc khuyến khích các DNVVN áp dụng các chứng nhận chất lượng quốc tế là một giải pháp bền vững. doanh nghiệp sẽ có một hệ thống quản lý tốt, vận hành hiệu quả giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đổi mới công nghệ thành công hơn. Hiện nay có rất nhiều phương pháp quản lý trên thế giới mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể áp dụng như ISO 9001, ISO 14001, ISO 22000 và ISO 27000. Tùy vào từng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau mà các doanh nghiệp tự lựa chọn cho mình mô hình quản lý phù hợp nhất. Hạn chế đề tài Mặc dù nghiên cứu đã đạt được một số kết quả, tuy nhiên nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế sau. Đề tài mới dừng lại ở việc phân tích dữ liệu thời điểm, chưa phân tích được ở dạng dữ liệu bảng để thấy được sự biến động của biến phụ thuộc theo thời gian. Đề tài chỉ mới kiểm chứng kết quả bằng mô hình hồi quy logit mà chưa so sánh được kết quả với các mô hình khác. Tác giả hy vọng sẽ khắc phục các hạn chế trên trong các nghiên cứu tiếp theo. 178 Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 Tài liệu tham khảo Azadegan, A., Patel, P. C., & Parida, V. 2013. Operational slack and venture survival. Production and Operations Management, 221, 1-18. Bhasin, K. 2012. This is the difference between “invention” and “innovation”. Retrieved July 01, 2018, from Business insider website Branscomb, L. M. 2001. Technological innovation. International Encyclopedia of the Social & Behavioral Sciences, 20015, 498-502. Branzei, O., & Vertinsky, I. 2006. Strategic pathways to product innovation capabilities in SMEs. Journal of Business Venturing, 211, 75-105. Cancino, C. A., Paza, A. I. L., Ramaprasad, A., & Syn, T. 2018. Technological innovation for sustainable growth An ontological perspective. Journal of Cleaner Production, 179, 31-41. Divisekera, S., & Nguyen, K. V. 2018. Determinants of innovation in tourism evidence from Australia. Tourism Management, 67, 157-167. Frankelius, P. 2009. Questioning two myths in innovation literature. The Journal of High Technology Management Research, 201, 40-51. Gnyawali, D. R., & Park, 2009. Co-opetition and technological innovation in small and medium-sized enterprises A multilevel conceptual model. Journal of Small Business Management, 473, 308-330. Gujarati, D. N. 2004. Basic econometrics. New York, NY McGraw-Hill. Guo, Y., Xia, X., Zhang, S., & Zhang, D. 2018. Environmental regulation, government R&D funding and green technology innovation Evidence from China provincial data. Sustainability, 104, 940. Jugend, D., Jabbour, C. J. C., Scaliza, J. A. A., Rocha, R. S., Junior, J. A. G., … Salgado, M. H. 2018. Relationships among open innovation, innovative performance, government support and firm size Comparing Brazilian firms embracing different levels of radicalism in innovation. Technovation, 74-75, 54-65. Kim Hien 2015. Đổi mới công nghệ để doanh nghiệp “cất cánh” [Innovating technology for businesses to “take off”]. Retrieved February 25, 2019, from 2015. Liang, X., & Liu, A. M. M. 2018. The evolution of government sponsored collaboration network and its impact on innovation A bibliometric analysis in the Chinese solar PV sector. Research Policy, 477, 1295-1308. Lubatkin, M. H., Simsek, Z., Ling, Y., & Veiga, J. F. 2006. Ambidexterity and performance in small-to medium-sized firms The pivotal role of top management team behavioral integration. Journal of Management, 1, 32-64. Minh Nhat 2015. Bài toán đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp [Technology innovation problem for businesses]. Retrieved February 27, 2019, from Nguyen, T. A., Vu, H. T., & Nguyen, M. T. T. 2018. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các quỹ đổi mới công nghệ nhà nước Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Nguyễn T. A. Vân, Nguyễn K. Hiếu. Tạp chí Khoa học Đại học MởThành phốHồChí Minh, 153, 167-179 179 [Supporting small and medium enterprises to access state technology innovation funds International experiences and lessons for Vietnam]. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Kinh tế và Kinh doanh, 341, 15-23. OECD. 2005. Growth in services. Paper presented at the Meeting of the OECD Council at Ministerial Level, 2005. Raisch, S., & Birkinshaw, J. 2008. Organizational ambidexterity Antecedents, outcomes, and moderators. Journal of Management, 343, 375-409. Rangus, K., & Slavec, A. 2017. The interplay of decentralization, employee involvement and absorptive capacity on firms’ innovation and business performance. Technological Forecasting & Social Change, 120C, 195-203. Sarooghi, H., Libaers, D., & Burkemper, A. 2015. Examining the relationship between creativity and innovation A meta-analysis of organizational, cultural, and environmental factors. Journal of Business Venturing, 305, 714-731. Song Giang. 2016. “Bãi rác công nghệ” - không còn là cảnh báo ["Technology landfill" - no longer a warning]. Retrieved September 20, 2019, from chinhtri/item/30706102-%E2%80%9Cbai-rac-cong-nghe%E2%80% Soto-Acosta, P., Popa, S., & Martinez-Conesa, I. 2018. Information technology, knowledge management and environmental dynamism as drivers of innovation ambidexterity A study in SMEs. Journal of Knowledge Management, 224, 824-849. Souitaris, V. 2002. Technological trajectories as moderators of firm-level determinants of innovation. Research Policy, 316, 877-898. Thong, J. Y. L. 2015. An integrated model of information systems adoption in small businesses. Journal of Management Information Systems, 154, 187-214. UNITED NATIONS UNIVERSITY. 2015. Characteristics of the Vietnamese business environment Evidence from a SME survey in 2015. Retrieved September 20, 2019, from UNITED NATIONS UNIVERSITY. 2015. Viet Nam SMEs database. Retrieved October 25, 2018, from Uzkurt, C., Kumar, R., Kimzan, H. S., & Sert, H. 2012. The impact of environmental uncertainty dimension on organizational innovavtiveness An empirical study on SMEs. International Journal of Innovation Management, 162, 1-23. The "environmental pollution-economic development" circle is a problem in the process of national sustainable development. As a complex concept of environmental protection and technology innovation, green technology innovation is the key to cracking this strange circle. This paper divides green technology innovation into green product innovation and green process innovation and measures green technology innovation based on the perspective of energy saving and emission reduction. Furthermore, we examine the effects of environmental regulation and government R & D funding on green technology innovation. The empirical findings are as follows 1 from the dynamic point of view, we test whether there is a significant "U-shaped" relationship between environmental regulation and green technological innovation, and we find there exists an "inflection point" in the role of environmental regulation in green technology innovation, and China is at the stage of inhibition before the "inflection point"; 2 direct government funding and tax incentives can promote green technology innovation, but the promotion of government tax incentives to green technology innovation is not significant; 3 the interaction between environmental regulation and government R & D will promote green product innovation and inhibit green process innovation, which is closely related to the imbalance of environmental regulation intensity in energy saving and emission reduction. In addition, this paper also gives out three kinds of control variables the level of regional development, the proportion of the regional manufacturing industry, and the development level of regional export-oriented economy and presents their effects on green technology The purpose of this study is to assess the effect of technological, organizational and environmental factors on innovation ambidexterity and its influence on the performance of manufacturing small- and medium-sized enterprises SMEs as well as the moderating effect environmental dynamism on this relationship. Design/methodology/approach Drawing on the Technology–Organization–Environment theory and the Knowledge-Based View, this paper develops an integrative research model, which analyzes the network of relations using covariance-based structural equation modeling on a data set of 429 Spanish SMEs. Findings The results show that information technology capability, knowledge management capability and environmental dynamism are positively associated with innovation ambidexterity. In addition, environmental dynamism is found to strengthen the positive effect of innovation ambidexterity on firm performance. Practical implications The study findings support the idea that innovation can be developed in an ambidextrous manner within a single SME as long as the firm is capable of creating a suitable organizational context and giving a prompt response to changes in the business environment. Originality/value Although many studies have highlighted that being ambidextrous is more challenging for SMEs than for their larger counterparts, the vast majority of studies has been conducted in large companies. This paper extends prior literature by analyzing antecedents and outcomes of innovation ambidexterity in manufacturing LiangAnita M. M. LiuThis study explores the dynamics of a government sponsored collaboration network concerning the development of solar photovoltaics PV technologies in China, and investigates the effect of network evolution on the subsequent innovation performance of network actors. Network structure characteristics and attribute proximity variables are jointly examined through a bibliometric methodology based on scientific publication and patent data. In addressing the evolution of the government sponsored collaboration network, this study has identified that actors are more likely to engage in collaboration with prior partners, partners of direct & indirect partners, and partners with similar attributes. These collaboration patterns, in turn, negatively impact direct ties and network efficiency, and increase the attribute proximity of an actor's network. On the other hand, the estimation results indicate that direct ties have an inverted U-shaped effect on innovation performance, while indirect ties are found to be positively related to innovation performance. As expected, a positive effect of network efficiency is found on innovation performance. The results of attribute proximity variables suggest geographical proximity is negatively related to innovation performance. Taken together, the collaboration patterns in the government sponsored network might have a negative impact on innovation performance of network actors. The empirical findings extend the network literature that collaboration network matters differently in different research contexts, and it is no longer appropriate to simply assume that collaboration is purely a good thing. As such, special attention should be paid to the network structure and composition in further policy work extends knowledge concerning the relationships among open innovation, innovative performance and government support for innovation within Brazilian firms. Data were obtained from two different firm samples Sample A, on incremental innovation, and Sample B, on radical innovation. The main research results are as follows. First, in considering government support for innovation, Sample B, based on radical innovation, played a superior and stronger role than Sample A. Secondly, for both samples, the cooperation of external firms has a positive effect on firms' innovative performance, which was positively controlled by the size of the firms. Thirdly, in general, radical innovation requires synergy and a more intense focus regarding the constructs considered therein. This work also adds value in methodological terms, as this is the first research to have tested different models of samples with different levels of radicalism in innovations are seen as means to optimize the efficient and clean use of vital resources in social-biological-economic systems. However, partial theoretical perspectives and experiences of their effects can lead to significant oversight of their potential and limitations. There is a need to manage technological innovations for sustainable growth from a holistic perspective, systemically and systematically. To do so, we present and validate an ontological framework, map the current body of knowledge, and identify the emphases and gaps in the domain. The ontological framework is constructed from the common terminology of the domain. The analysis is based on a map of 375 research papers published in the most prestigious journals relevant to the domain. The results show significant gaps in the research to fulfil the potential. Future research can be directed to fill these RangusAlenka SlavecThis paper investigates the relationship between organizational characteristics and firm's innovation and business performance. Specifically, we examine how decentralization, absorptive capacity, and employee involvement in light of the open innovation literature impact firm's innovation, which in turn affects business performance. We test the proposed model on a large sample of 421 manufacturing and service firms and find decentralization being positively connected to employee involvement, absorptive capacity, and firm's innovation performance. Moreover, the results show that employee involvement and absorptive capacity mediate the relationship between decentralization and firm's innovation performance. The results also suggest that firm's innovation performance positively influence firm's business performance. Implications for managers and future research are AzadeganPankaj C. PatelVinit ParidaSlack can act as a double-edged sword. While it can buffer against environmental threats to help ensure business continuity, slack can also be costly and reduce profitability. In this study we focus on operational slack, the form related to the firm's production processes. We investigate the role of operational slack on firm survival during its venture stage when its survival is significantly challenged by environmental threats. Specifically, we explore how change in three types of environmental uncertainty, namely dynamism, complexity, and lack of munificence, affect the relationship between operational slack and venture survival. Results suggest that with an increase in environmental uncertainty, operational slack lowers the likelihood of venture Uzkurt Rachna KumarHalil Semih KimzanHanife SertThe purpose of this study is to examine the effects of factors of environmental uncertainty on the innovativeness of small and medium enterprises SMEs. Innovativeness is widely accepted as an important characteristic for firm competitiveness and it has been studied by both researchers as well as business managers. Environmental uncertainty is a measure of the complexity of changing external forces faced by an organisation and it crucially impacts the responses of organisations in order to stay competitive. Based on approaches in existing literature, this study conceptualises environmental uncertainty comprised three separate dimensions — competitive intensity, market/demand turbulence, technological turbulence. Data for the study were collected from 156 SMEs in Turkey. SMEs are regarded as an important ingredient in the economic growth of nations and especially so in developing nations such as Turkey. The findings of the study reveal that market/demand turbulence and technological turbulence have a positive effect on the innovativeness of SMEs. Interestingly and contrary to popular belief, competitive intensity was not found to have significant effect on an SME's innovativeness. The implication of the results from this research is that the degree of organisational innovativeness for SMEs tends to increase and therefore should be supported in environments with greater technological and market/demand turbulence. This research makes an important contribution to the developing body of innovation literature and provides directions for managers and researchers in influencing innovativeness of firms.
Post Views 37,614 Môi trường kinh doanh quốc tế là gì mà có tầm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty đa quốc gia? Hãy cùng OCD tìm hiểu qua bài viết dưới đây Contents1 Khái niệm môi trường kinh doanh quốc tế2 Những yếu tố ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh quốc Môi trường kinh Môi trường văn hóa- xã Môi trường chính Môi trường tự Môi trường công Môi trường nhân khẩu Môi trường cạnh tranh Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng hợp các yếu tố môi trường như pháp luật, chính trị, kinh tế, văn hóa, tài chính… Những yếu tố này tác động và chi phối mạnh mẽ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chúng buộc các doanh nghiệp phải điều chỉnh mục đích, hình thức và chức năng hoạt động nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Trong những điều kiện của xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh doanh quốc tế ngày càng được mở rộng và phát triển, để thích ứng với xu hướng này, các doanh nghiệp phải tăng dần khả năng hội nhập, thích ứng của mình với điều kiện mới của môi trường kinh doanh trong và ngoài nước. Do khác nhau về điều kiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, trình độ nhận thức, phong tục tập quán, chính trị, pháp luật… Mỗi quốc gia tồn tại môi trường kinh doanh không giống nhau, nó ảnh hưởng không chỉ đối với các hoạt động và kết quả kinh doanh của các công ty nước ngoài đang hoạt động kinh doanh ở nước sở tại, mà còn ảnh hưởng cả đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh nội địa. Những yếu tố ảnh hưởng tới môi trường kinh doanh quốc tế Môi trường kinh tế Đặc điểm Tính ổn định của kinh tế vĩ mô bao gồm chính sách thuế, tiền tệ, lãi suất, tỷ giá, mức độ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế… Mô hình kinh tế bao gồm Kinh tế thị trường tự do; Kinh tế mệnh lệnh; kinh tế hỗn hợp… Sự hình thành các khối liên kết thương mại nhằm dàn xếp các hoạt động kinh tế và thực hiện ưu đãi giữa các quốc gia thành viên. Đó là các hình thức như khu vực thương mại tự do, hội đồng hải quan, thị trường chung, hội đồng kinh tế. Ví dụ như AFTA, NAFTA, EFTA, CPTPP,… Ảnh hưởng Các yếu tố kinh tế của một quốc gia như thuế quan, thuế, hệ thống tài chính và mức thu nhập… có sự ảnh hưởng lớn đến sự thâm nhập của các công ty đa quốc gia. Các quốc gia thực hiện các chính sách thuế quan để điều tiết thương mại với các quốc gia khác. Mức thuế khác nhau giữa các địa phương ảnh hưởng đến việc công ty đa quốc gia lựa chọn địa điểm để sản xuất kinh doanh. Một số quốc gia đánh thuế doanh nghiệp cao hơn đối với các công ty nước ngoài trong khi các quốc gia khác đối xử bình đẳng với các nhà đầu tư nước ngoài và địa phương. Bên cạnh đó, hệ thống tài chính đóng một vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh quốc tế. Toàn cầu hóa lĩnh vực tài chính đã giúp các công ty đa quốc gia dễ dàng huy động vốn. Nền kinh tế vĩ mô ổn định cũng thúc đẩy các công ty đa quốc gia đầu tư vào thị trường mới. Mức thu nhập ở một quốc gia quyết định khả năng tồn tại của thị trường. Khi đó, GDP bình quân đầu người cao hoặc thu nhập hộ gia đình cao thì sức mua của con người ở quốc gia đó cũng cao hơn bởi vì xu hướng thu nhập ảnh hưởng đến quyết định giá cả và quyết định đầu tư. Môi trường văn hóa- xã hội Đặc điểm Giá trị và thái độ Giá trị là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm của con người. Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chung thủy, tự do và trách nhiệm. Thái độ là những đánh giá, tình cảm và khuynh hướng tích cực hay tiêu cực của con người đối với một khái niệm hay một đối tượng nào đó. Phong tục Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động sống thường ngày. Cách ứng xử Ứng xử làmột biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Tôn giáo Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hoang đường và hư ảo hiện thực khách quan. Qua sự phản ánh của tôn giáo mọi sức mạnh tự phát của tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí. Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định. Do đó xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội. ở một mức độ nhất định tôn giáo có vai trò tích cực trong văn hoá, đạo đức xã hội như đoàn kết, hướng thiện, quan tâm đến con người… Tôn giáo là niềm an ủi, chỗ dựa tinh thần của quần chúng lao động. Ngôn ngữ Là ngôn ngữ duy nhất đại diện cho bản sắc dân tộc của một dân tộc hay quốc gia, và vì vậy được chỉ định bởi chính phủ của một quốc gia. Một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số về mặt kỹ thuật được quy định ngôn ngữ quốc gia, và trong danh sách dưới đây được xếp theo thứ tự ưu tiên về sử dụng. Một số quốc gia có nhiều hơn một ngôn ngữ được công nhận là ngôn ngữ quốc gia. Thẩm mỹ là nhận định, quan điểm về cái đẹp của một quốc gia mà được toàn thể nhân dân công nhận. Thẩm mỹ quốc gia có thể thay điểm theo từng thời điểm,… Cấu trúc xã hội Cấu trúc xã hội là sự sắp xếp, mối quan hệ và cơ chế vận hành của các bộ phận, các yếu tố trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định, trong đó phương thức sản xuất là cơ sở, là nền tảng của cấu trúc. Ảnh hưởng Văn hoá của mỗi dân tộc có những nét đặc thù riêng biệt. Mỗi doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế cần hiểu rõ về văn hóa của quốc gia mình đang thâm nhập. Văn hoá có sự ảnh hưởng tới với mọi khía cạnh kinh doanh quốc tế như tiếp thị, quản lý nguồn nhân công, sản xuất tài chính… Đặc biệt, nhiều quốc gia mang tính tự hào dân tộc cao như Nhật Bản thì việc hiểu viết về văn hóa trước khi gia nhập càng tôn trọng. Trên thực tế, các công ty địa phương cạnh tranh thành công hơn so với công ty nước ngoài do ứng dụng văn hoá truyền thống dân tộc để thực hiện các chiến dịch quảng cáo. Mỗi nền văn hoá lại có thái độ và đức tin ảnh hưởng đến hầu hết tất cả các khía cạnh của hoạt động đời sống hằng ngày. Doanh nghiệp càng biết nhiều về những thái độ và đức tin của con người ở quốc gia ấy bao nhiêu thì họ càng chuẩn bị tốt hơn cho việc thâm nhập. Việc thuê mướn nhân công, buôn bán của doanh nghiệp đều được điều chỉnh bởi con người. Vì vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc sự khác nhau giữa những nhóm xã hội để dự đoán, điều hành các mối quan hệ và hoạt động của mình. Sự khác nhau về con người dẫn đến những sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh ở nhiều quốc gia trên thế giới. Điều đó buộc các nhà hoạt động quản lý, các nhà kinh doanh phải có sự am hiểu về văn hoá của nước sở tại, văn hoá của từng khu vực trên thế giới. Thị hiếu, tập quán tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu, vì mặc dù hàng hoá có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưa chuộng thì cũng khó được họ chấp nhận. Vì vậy, nếu nắm bắt được thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng khối lượng cầu một cách nhanh chóng. Và thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từng vùng, từng châu lục, từng dân tộc và chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn giáo. Ngôn ngữ cũng là một yếu tố quan trọng trong nền văn hoá của từng quốc gia. Ngôn ngữ cung cấp cho các nhà sản xuất kinh doanh một phương tiện quan trọng để giao tiếp trong quá trình kinh doanh quốc tế. Tôn giáo có thể ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của con người và ảnh hưởng đến phương châm trong hoạt động kinh doanh. Ví dụ, thời gian mở cửa hoặc đóng cửa; ngày nghỉ, kỳ nghỉ, lễ kỷ niệm… Vì vậy, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được tổ chức cho phù hợp với từng loại tôn giáo đang chi phối thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động. Môi trường chính trị Đặc điểm Môi trường chính trị – luật pháp bao gồm thể chế chính trị, sự ổn định của chính phủ, hệ thống các văn bản pháp quy, chính sách, các đạo luật, bộ luật và các quy định, hướng dẫn thi hành của từng quốc gia. Các luật lệ và quy định của nước sở tại Luật thương mại, luật sở hữu trí tuệ, luật đầu tư nước ngoài, luật chuyển nhượng thương hiệu, luật doanh nghiệp, luật ngân hàng, luật quảng cáo, luật đối với ngành nghề kinh doanh, luật bảo vệ môi trường, luật lao động… Các quy định, hướng dẫn các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế ban hành đối với các quốc gia thành viên. Việc thực thi pháp luật. Ảnh hưởng Các yếu tố pháp lý liên quan đến môi trường chính trị liên quan đến sự hoạt động của công ty đa quốc gia. Các công ty khác nhau sẽ có những điều khoản luật khác nhau và các công ty đa quốc gia bắt buộc phải tuân thủ theo. Môi trường chính trị tạo nên một sự khác biệt trong môi trường và điều kiện kinh doanh ở mỗi quốc gia. Môi trường chính trị của các quốc gia phản ánh khả năng phát triển của quốc gia đó cả đối nội và đối ngoại. Đường lối, định hướng của đảng cầm quyền ảnh hưởng quyết định đến xu hướng đối nội, đối ngoại và chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Sự tác động của môi trường chính trị-luật pháp ảnh hưởng vĩ mô đến môi trường hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh vào một khu vực thị trường mới, họ thường tập trung nghiên cứu kỹ lưỡng hệ thống luật pháp và các chính sách của quốc gia đó để xây dựng kế hoạch kinh doanh thích hợp. Môi trường tự nhiên Đặc điểm Những yếu tố liên quan tới tự nhiên của quốc gia như khí hậu, tài nguyên,.. Ảnh hưởng Các yếu tố điều kiện tự nhiên như khí hậu ,thời tiết không những ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh cua các công ty địa phương mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới công ty đa quốc gia. Đó là sự ảnh hưởng đến chu kỳ sản xuất kinh doanh trong khu vực, các hoạt động dự trữ, bảo quản hàng hoá. Đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các điều kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh tế, mặt khác nó cũng có thể gây hạn chế khả năng đầu tư, phát triển kinh doanh đặc biệt với doanh nghiệp thương mại trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối… Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức về môi trường đang ngày càng trở nên quan trọng. Các công ty đa quốc gia cần hướng tới các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường, các hoạt động kinh doanh không được ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên, gây nên những tác nhân xấu cho xã hội. Môi trường công nghệ Đặc điểm Môi trường công nghệ bao gồm các yếu tố gây tác động đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường mới. Công nghệ và sự phát triển của công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến các doanh nghiệp. Ảnh hưởng Sự tiến bộ công nghệ của một quốc gia hay sự chấp nhận công nghệ quyết định nhiều đên sự đầu tư của công ty đa quốc gia. Những thay đổi công nghệ trong ngành có cả tác động tích cực và tiêu cực đến hoạt động kinh doanh. Thay đổi công nghệ và phát triển các quy trình làm việc tự động giúp tăng hiệu quả làm việc, tuy nhiên, những thay đổi công nghệ cũng đe dọa nhu cầu của các sản phẩm và dịch vụ khác nhau trong ngành. Môi trường nhân khẩu học Đặc điểm Qui mô dân số, cơ cấu dân số, mật độ dân cư Thu nhập bình quân đầu người, sự phân hóa giàu nghèo Quan điểm/ thái độ về tiêu dùng sản phẩm Tỷ lệ người đã sử dụng sản phẩm Mức chi phí cho sản phẩm/ người/ tháng hoặc năm Đối tượng khách hàng mục tiêu, đặc điểm của khách hàng mục tiêu nhân khẩu học, thói quen mua hàng.. Ảnh hưởng Môi trường nhân khẩu học là những yếu tố liên quan đến con người, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì các hoạt động kinh doanh cuối cùng cũng hướng về con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu con người để thu lại lợi nhuận. Chẳng hạn, thu nhập là một biến số nhân khẩu học có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp. Sản phẩm của công ty thường thu hút các nhóm thu nhập nhất định. Số lượng người có cùng nhu nhập cao thì khả năng họ chi trả cho sản phẩm sẽ cao hơn. Ví dụ, các sản phẩm quần áo phụ nữ cao cấp thường thu hút phụ nữ có thu nhập cao hơn. Quan điểm về tiêu dùng sản phẩm của mỗi quốc gia cũng khác nhau. Chẳng hạn, người Nhật Bản rất thích thức ăn có vị nhớt. Người Hàn Quốc lại ưa chuộng thực phẩm có màu đỏ, vị cay. Nếu hiểu rõ về thị hiếu từng quốc gia, sản phẩm khi vào thị trường sẽ có khả năng tiêu thụ rộng rãi và hiệu quả. Do đó, các công ty đa quốc gia khi thâm nhập vào thị trường mới cần xem xét độ rộng của thị trường mục tiêu để xác định có nên thâm nhập hay không. Các quốc gia khác nhau sẽ có thói quen mua hàng khác nhau, việc hiểu và nắm rõ thói quen mua hàng sẽ hỗ trợ doanh nghiệp rất nhiều trong việc xây dựng kế hoạch Marketing, cách thức quảng cáo,… Môi trường cạnh tranh Đặc điểm Đối thủ cạnh tranh trực tiếp-gián tiếp Đối thủ cạnh tranhlà những doanh nghiệp phục vụ cùng phân khúc khách hàng mục tiêu, cùng chủng loại sản phẩm, cùng thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng. Qua việc hiểu biết về đối thủ sẽ giúp doanh nghiệp hình dung ra bức tranh tổng quát về thị trường và ngành mà doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh. Nguồn cung ứng nguyên vật liệu Nguồn cung ứng nguyên vật liệu quyết định hoạt động sản xuất của công ty có diễn ra thuận lợi hay không. Đó có thể là chi phí, số lượng, ưu đãi từ nhà cung cấp,… Khách hàng Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang nổ lực Marketing hướng tới, là đối tượng thửa hưởng những đặc tính chất lượng của sản phẩm – dịch vụ. Khách hàng là đối tượng quan trọng quyết định mức thành hay bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ảnh hưởng Sự hiểu biết về môi trường cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp đa quốc gia. Chặng hạn, các đối thủ cạnh tranh nhau sẽ quyết định tính chất và mức độ ganh đua, thủ thuật dành lợi thế trong ngành. Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của các ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hoá sản phẩm. Ngoài ra các đối thủ cạnh tranh mới và giải pháp công nghệ mới cũng thường làm thay đổi mức độ và tính chất cạnh tranh. Bên canh đó, quốc gia mà công ty quốc gia đang thâm nhập nếu có một nguồn cung ứng vật liệu đủ tốt với chi phí rẻ sẽ giúp công ty tối ưu hóa chi phí rất lớn. Khách hàng phải là những người có khả năng chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu bị khách hàng “bỏ lơ” thì kế hoạch xâm nhập không thành công. Nguồn Công ty Tư vấn Quản lý OCD
môi trường công nghệ ảnh hưởng tới doanh nghiệp